“Cơ hội và thách thức”

  • 6

Việc kí kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EU sẽ tạo ra những bước tiến mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam đồng thời cũng đặt Việt Nam trước những thách thức mới. Tiền đề FTA Việt Nam – EU Quan hệ thương mại Liên minh Châu Âu (EU) và Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ấn tượng. EU – một khu vực kinh tế đa dạng với 27 quốc gia thành viên đã trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam tuy hiện tại vẫn là một đối tác nhỏ của EU (đứng thứ 31 trong nhập khẩu vào EU và thứ 41 trong xuất khẩu từ EU) nhưng đầy tiềm năng với một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng và một thị trường dân số trẻ với sức hấp thụ hàng hóa, dịch vụ lớn, một địa chỉ đầu tư hấp dẫn ổn định. Hơn thế nữa, về góc độ Chính phủ, Việt Nam và EU đã ký Hiệp định khung về hợp tác và phát triển năm 1995. Tiếp đó là những kế hoạch, chương trình nhằm tăng cường quan hệ hợp tác song phương. Năm 2010, Việt Nam và EU hoàn thành đàm phán và ký tắt Hiệp định đối tác, hợp tác toàn diện (PCA). Lãnh đạo cấp cao hai bên cũng đã thể hiện sự đồng thuận trong việc xem xét nghiên cứu khả năng đàm phán một Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa hai bên. FTA Việt Nam – Châu Âu: “Cả hai đều thắng” Trong Hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang, Ủy ban tư vấn chính sách thương mại quốc tế đã đưa ra những triển vọng của việc đàm phán ký kết FTA giữa Việt Nam – EU. Trong đó, nghiên cứu của MUTRAP III về tác động tiềm tàng của FTA Việt Nam – EU đến các khía cạnh của nền kinh tế đã cho kết quả tích cực. Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam sang EU có thể tăng trưởng trung bình 4% hàng năm (6% đối với các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như dệt may, da giày, đồ gỗ với mức cắt giảm thuế quan có thể đến 0%). Trong khi đó, nhập khẩu cũng có thể tăng 3,1% hàng năm do các cam kết mở cửa thị trường trong nước. Đầu tư trực tiếp từ EU sang Việt Nam có thể tăng nhờ các cam kết mức độ tự do cao hơn và chất lượng đầu tư sẽ được cải thiện hơn. Các tác động khác như giá cả trong nước, mức lương, việc làm cho người lao động cũng có thể cải thiện đáng kể khi FTA Việt Nam – EU đi vào hoạt động. Theo giáo sư Claudio Dordi – Chuyên gia MUTRAP III, nội dung dự kiến của hiệp định FTA Việt Nam – EU sẽ bao gồm vấn đề thương mại hóa, đầu tư, mua sắm công, quyền sở hữu trí tuệ, môi trường, các vấn đề cạnh tranh và xã hội. Theo đó, cần có hệ thống quy định chặt và những hợp tác về mặt pháp lý, đặc biệt trong giải quyết rào cản phi thuế quan. Việc ký kết hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU sẽ đưa lại cho Việt Nam và EU những lợi ích trên nhiều mặt. Ông Jean Jacques Bouflet – Tham tán Thương mại Châu Âu tại Việt Nam đã khẳng định: “FTA Việt Nam – Châu Âu : Cả hai đều thắng”. FTA Việt Nam – Châu Âu: Việt Nam - Lợi ít hay lợi nhiều Việc ký kết FTA Việt Nam – Châu Âu sẽ đem lại cho Việt Nam những lợi ích sát sườn nhưng cũng đặt Việt Nam trước những thách thức mới. Trong bài phát biểu của mình, giáo sư Claudi Dordi đã đưa ra những thực tế và lý giải về thương mại của các nước Chi lê, Mexico và Nam Phi sau khi ký FTA với EU; đồng thời, các chuyên gia, đại diện hiệp hội các doanh nghiệp cũng đã thảo luận xung quanh vấn đề “được-mất” của Việt Nam khi tham gia FTA. Theo ông Phạm Chí Cường – Chủ tịch hiệp hội thép Việt Nam chia sẻ: “Trong ngành thép chưa có một hợp tác chính thức nào với EU, tuy nhiên, những trang thiết bị nhập từ EU đã được sử dụng rộng rãi trong ngành thép với chất lượng sử dụng cao. Vì vậy, việc ký kết FTA sẽ tạo môi trường thuận lợi cho EU đầu tư vào ngành thép của Việt Nam”. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước rất nhiều khó khăn và thách thức khi tiến hành ký kết FTA, đó là: sự phát triển còn non kém của ngành công nghiệp phụ trợ, những vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, giá trị thặng dư... Trước câu hỏi Việt Nam có quá mạo hiểm không trong việc ký kết hiệp định FTA khi ngành công nghiệp phụ trợ còn nhiều yếu kém, ông Trần Hữu Huỳnh – Chủ tịch UB tư vấn về Chính sách Thương mại Quốc tế đã thẳng thắn khẳng định: “Việc hô hào phát triển nền công nghiệp phụ trợ đã diễn ra trong vài chục năm trở lại đây. Tuy nhiên có một thực tế, đó là chủ trương có từ lâu nhưng chúng ta lại không làm được. Nhiều khi đến cả đinh vít, bu lông, cũng phải nhập ngoại. Vì vậy chúng ta cần tìm một hướng giải quyết khác. Theo tôi chúng ta cần tạo điều kiện để những nhà sản xuất công nghệ cao, họ có thể vào Việt Nam để phát triển. Nếu không chúng ta cứ mãi làm gia công thì sẽ có những bất cập”. Một chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại, khi FTA được ký kết, các mặt hàng Việt Nam tại nước ngoài liệu có khẳng định được thương hiệu hay không?. Thực tế cho thấy, đa phần các mặt hàng Việt Nam khi xuất khẩu sang nước ngoài đều không mang giá trị thương hiệu. Đây thật sự là những vấn đề nóng cần được tháo gỡ để hiệp định FTA Việt Nam – Châu Âu có thể mang lại lợi ích cho song phương. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Ủy ban tư vấn về Chính sách Thương mại Quốc tế trong bài phát biểu của mình cũng đã nhấn mạnh: “Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta lợi ít hay lợi nhiều, mà nằm ở chỗ chúng ta sẽ có lợi. Việc ký kết FTA Việt Nam – Châu Âu sẽ mang lại nhiều lợi ích cho phía Việt Nam”. Như vậy, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của nhiều nền kinh thế thế giới, việc ký kết FTA Việt Nam – Châu Âu là việc cần thiết và hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại. Những trao đổi thẳng thắn giữa các chuyên gia, đại diện của các hiệp hội ở Việt Nam trong Hội thảo sẽ góp phần cho những khuyến nghị thích hợp với Chính phủ Việt Nam trong việc quyết định đàm phán cũng như lựa chọn phương án đàm phán thích hợp để FTA thực sự mang lại hiệu quả cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước. Bài, ảnh: Thu Thủy

ngày đăng: 02/03/2011 QĐND