Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ tự động hóa

  • 5

CôngThương - Hoàn thành hơn 80 sản phẩm công nghệ mới Theo GS.TSKH Cao Tiến Huỳnh - Chủ nhiệm chương trình, sau hơn 3 năm thực hiện, toàn bộ chương trình đã tạo ra được trên 80 chủng loại sản phẩm dạng máy móc, thiết bị và hệ thống tự động hóa công nghệ mới. Công nghệ và thiết bị tạo ra có tính năng kỹ thuật, kiểu dáng, chất lượng cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực. 100% đề tài có kết quả được công bố trên tạp chí KH - CN có uy tín quốc gia và quốc tế, hoặc có đăng ký sáng chế giải pháp hữu ích. Một số sản phẩm công nghệ đã chứng tỏ được giá trị thực tiễn trực tiếp thông qua việc chuyển giao ứng dụng hoặc thương mại hóa như: Hệ thống tự động giám sát SCADA phục vụ an toàn lao động trong khai thác hầm lò với máy tự động đo nồng độ khí mê tan, khí CO2, đã được áp dụng rộng rãi trong ngành khai thác hầm lò của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam. Với thời gian hạn chế nhưng tổng giá trị hợp đồng chuyển giao hệ thống này cho doanh nghiệp khai thác than đến nay đã đạt trên 30 tỷ đồng. Giá thành của máy và của hệ thống chỉ bằng 40-50% giá nhập ngoại, góp phần từng bước giảm nhập khẩu sản phẩm từ nước ngoài. Thêm nữa, hệ thống tự động hóa giám sát video và điều khiển từ xa trên cơ sở công nghệ cao có sử dụng Linux (hệ thống tương tự được các hãng của Mỹ chào bán với giá trên 5 triệu USD) cũng đã được ứng dụng thành công. Sau khi đã được áp dụng ở một vài cơ sở, Bộ Giao thông – Vận tải đã quyết định chỉ định thầu về việc áp dụng hệ thống này để phục vụ giám sát và điều hành giao thông đường bộ tuyến Cầu Giẽ-Ninh Bình. Bên cạnh đó, còn một loạt kết quả nổi bật khác như: thiết bị và hệ thống tự động hóa dẫn đường; hệ thống Robot hàn bao gồm Robot tự hành và thiết bị hàn… đang trong giai đoạn áp dụng thử, có khả năng mở rộng ứng dụng trong thời gian tới, hứa hẹn đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế. Triển khai đồng bộ Đặc điểm chung của các sản phẩm nói trên là được nghiên cứu thiết kế, chế tạo trên cơ sở linh kiện công nghệ mới, đạt chỉ tiêu kỹ thuật tương đương sản phẩm cùng loại của các nước tiên tiến, với giá rẻ. Chức năng và tính năng mới phù hợp với điều kiện thực tế trong nước. Kết quả của chương trình có hàm lượng KH - CN cao, giá trị ứng dụng thiết thực. Năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thực hiện đề tài, dự án được nâng lên một bước. Các nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài, dự án có mối liên hệ, liên kết với các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, trong khi thực hiện, chương trình cũng gặp phải một số khó khăn về cơ chế như: Về cơ chế xác định nhiệm vụ: mang tính tự phát, rời rạc, thiếu sự liên kết giữa các nhiệm vụ. Hội đồng xác định nhiệm vụ còn mang tính nhất thời, chỉ trong vòng một vài phiên họp đã có thể xét đề xuất từ cơ quan hoặc đơn vị?!. Với cách làm và cơ chế này, rất khó để chương trình, đề tài, dự án tạo ra được những công trình tầm cỡ. Cơ chế tài chính cho dự án chưa thích hợp, không khuyến khích được sự tham gia đông đảo của tổ chức nghiên cứu, mặc dù tiềm năng về trình độ KH - CN của tổ chức nghiên cứu là có và nhu cầu áp dụng của các đơn vị sản xuất thực tế là lớn. Cơ chế tài chính về đấu thầu, mua sắm vật tư linh kiện chưa theo kịp được diễn biến thị trường.. Do đó, trong giai đoạn 2011 – 2015, triển khai nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị và hệ thống tự động hóa một cách đồng bộ; tiếp cận hướng mới, công nghệ cao... là một trong những ưu tiên hàng đầu của chương trình.

ngày đăng: 02/03/2011 Báo Công Thương