Những bài học vô giá

  • 0

Sau 45 năm, đến nay, chúng ta đã có đủ cơ sở để kết luận rằng, cục diện "vừa đánh vừa đàm" mà sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 góp phần tạo ra, thực chất bắt nguồn từ tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã chỉ rõ, "cần phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ". Đây là kim chỉ nam chỉ đạo toàn bộ tiến trình đàm phán của ta tại Paris.

Ngay trước khi đồng chí Xuân Thủy, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tới thủ đô nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Phải nhớ Mỹ là nước lớn đứng đầu thế giới tư bản, buộc phải ngồi vào đàm phán, thương lượng là thất bại rồi… Không được làm Mỹ mất mặt, phải tế nhị, khôn khéo, lúc cương lúc nhu thì mới gọi là đàm phán hòa bình, mới đạt kết quả… Chiến tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì, không được nóng ruột".

Ngày 13-5-1968, Hội nghị Paris về Việt Nam chính thức khai mạc. Khác với Hội nghị Geneva năm 1954, khi đó ta "đánh rồi mới đàm", lần này ta vừa đánh vừa trực tiếp đàm phán với đối phương. Trong giai đoạn 1 của Hội nghị (từ ngày 13-5-1968 đến 30-10-1968), mục tiêu của ta là đòi Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện miền Bắc. Giai đoạn này, đàm phán diễn ra gần như đồng thời với đợt hai và ba của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Hai mặt trận đánh - đàm đã có sự phối hợp, hỗ trợ cho nhau nhưng tác dụng trực tiếp còn ít vì trên bàn thương lượng, Mỹ chưa đi vào đàm phán thực chất, chưa "ngả bài" hoàn toàn. Ta chủ yếu đấu tranh để kéo Mỹ xuống thang từng bước.

Sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc hoàn toàn, giai đoạn 2 bắt đầu từ 25-1-1969 khi mở ra đàm phán 4 bên, các cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - H.Kissinger và đi đến ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Càng về cuối cục diện "vừa đánh vừa đàm" càng được phát huy cao độ. Đỉnh cao trong việc vận dụng thành công nghệ thuật này được thể hiện ở thời điểm tháng 3-1972 khi Mỹ đơn phương ngừng không thời hạn Hội nghị Paris, ném bom trở lại miền Bắc. Trung ương Đảng vẫn chủ trương duy trì Hội nghị Paris với mục tiêu làm diễn đàn tuyên truyền để tranh thủ dư luận quốc tế và kết hợp với chiến trường để đấu tranh với Mỹ về mặt ngoại giao. Quán triệt chỉ đạo này, phái đoàn ta tại Paris đã đấu tranh, đòi Mỹ phải nối lại đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ về vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Từ giữa năm 1972, chính quyền Mỹ ráo riết thực hiện chính sách ngoại giao con thoi, tìm mọi cách để cô lập Việt Nam, thực hiện đàm phán với ta trên thế mạnh, ép chúng ta nhượng bộ và chấp nhận những đòi hỏi phi lý. Thậm chí, để phá thế bế tắc, từ ngày 18-12 đến 30-12-1972, Mỹ sử dụng máy bay B.52 ném 10 vạn tấn bom xuống các tỉnh miền Bắc. Nhưng bằng ý chí kiên cường, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không". Đây là đòn quyết định buộc Tổng thống Mỹ Richard Nixon phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sức mạnh trí tuệ Việt Nam

Hiệp định Paris là kết tinh của tiến trình đấu tranh chủ động, sáng tạo và đầy bản lĩnh, trí tuệ của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; là kết quả của việc kiên trì và linh hoạt trong vận dụng nguyên tắc "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Trong đó, vấn đề độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là bất biến. Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút quân khỏi Việt Nam vô điều kiện là yêu cầu ta kiên quyết theo đuổi trong suốt quá trình đàm phán. Kiên trì về nguyên tắc song mềm dẻo về sách lược chính là "ứng vạn biến". Phía Việt Nam đã linh hoạt chấp nhận sự tồn tại hai chính quyền, hai lực lượng quân đội ở miền Nam Việt Nam và đề cao nguyên tắc tự quyết.

Văn kiện này còn là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao thông qua mặt trận báo chí và vận động dư luận. Đây là một trong những điểm đặc sắc, thể hiện trí tuệ và tầm vóc của ngoại giao Việt Nam. Hoạt động này đã tạo ra mặt trận đoàn kết nhân dân thế giới rộng lớn chưa từng có, một phong trào phản chiến rầm rộ ngay trong lòng nước Mỹ, cũng như phong trào đấu tranh ủng hộ Việt Nam ngay tại Paris. Điều này tạo sức ép rất lớn lên chính quyền Mỹ, tạo sự phân hóa trong lòng xã hội Mỹ, giữa Mỹ và các nước đồng minh, khiến Washington lúng túng ngay cả trong thái độ và chính sách đối với đồng minh Việt Nam Cộng hòa.

Hội nghị Paris kéo dài gần 5 năm song đàm phán thực chất chỉ có khoảng 6-7 tháng. Phần lớn thời gian còn lại là đấu tranh dư luận thông qua các cuộc họp báo hay các cuộc tiếp xúc chính trị. Trong thời gian diễn ra Hội nghị 4 bên tại Paris, bên cạnh 28 cuộc họp công khai với 12 cuộc họp bí mật, chúng ta đã chủ động tổ chức 500 cuộc họp báo và hàng nghìn cuộc tiếp xúc với bạn bè Pháp và quốc tế để vận động dư luận, thể hiện rõ thiện chí hòa bình, thế mạnh đạo lý, phát huy tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Ta đã thành công trong việc "đưa chiến tranh vào trong lòng nước Mỹ", biến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam thành cuộc đấu tranh của nhân dân Việt - Mỹ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Bài học vô giá và những giá trị trường tồn

Việc buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu có giá trị trường tồn cho các thế hệ mai sau. Trước hết, đó là bài học về độc lập, tự chủ.

Tại Hội nghị Paris, chúng ta đã tôn trọng nguyên tắc này trong mọi quyết sách, trong từng bước đi… Điều đó đã giúp ta đứng vững trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi tình hình quốc tế có những biến động không thuận. Bài học thứ hai là về nghệ thuật chớp thời cơ. Chúng ta đã chủ động đánh giá đúng tình hình chiến trường, tình hình quốc tế và khu vực, nhận định đúng thời cơ và thách thức. Do vậy, Việt Nam đã khai thác triệt để các cơ hội, phát huy đúng lúc sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tăng được thế và lực cho đất nước.

Một bài học khác là tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế phục vụ cho cuộc đấu tranh của ta. Đấu tranh báo chí, đấu tranh dư luận thực sự đã trở thành một mặt trận quan trọng, góp phần không nhỏ vào thành công chung. Bao trùm lên tất cả là sự lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh vững vàng của Đảng, nhờ đó chúng ta có được định hướng đúng, đối sách phù hợp và giữ vững niềm tin trong mọi hoàn cảnh để đi tới thắng lợi cuối cùng.

Kỷ niệm 45 năm Ngày ký Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại những bài học lịch sử, nhớ đến và biết ơn tất cả những người đã tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao trường kỳ ở Paris, cũng như những cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta trong mọi giai đoạn đã cống hiến, hy sinh, phục vụ toàn tâm, toàn ý để có được thắng lợi trên bàn đàm phán và đi đến Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước.

TS Trần Việt Thái -Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược,Học viện Ngoại giao

ngày đăng: 27/01/2018 Hà Nội Mới
Bài viết liên quan