Thống kê nguồn thải: Việc cần nhưng chưa làm

  • 8

Thưa thứ trưởng, bộ Tài nguyên và môi trường đã tiến hành điều tra, thống kê nguồn thải trên các lưu vực hệ thống sông lớn trong cả nước chưa? Trong các năm 2009 – 2010, tổng cục Môi trường đã tiến hành điều tra, thống kê các nguồn thải, hiện trạng và những tác động đến môi trường trên các lưu vực sông Cầu, Nhuệ – Đáy và Đồng Nai. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển kinh tế xã hội hiện nay, các nguồn thải luôn có sự biến động khá lớn cả theo không gian và thời gian. Vì vậy cần thiết phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về các nguồn thải đầy đủ và có khả năng cập nhật thường xuyên, liên tục kết hợp đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng môi trường đồng bộ để có thể đưa ra các số liệu phục vụ công tác quản lý. Đây cũng là vấn đề được lãnh đạo bộ chỉ đạo triển khai trong thời gian tới. Trên cả nước, đặc biệt là các địa phương thuộc các lưu vực sông trọng điểm về ô nhiễm (sông Cầu, sông Nhuệ – sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai), do hạn chế về kinh phí và nguồn nhân lực tại địa phương, nên công tác điều tra, đánh giá nguồn thải còn chưa được triển khai thành nhiệm vụ thường xuyên để đáp ứng được nhu cầu thực tế của công tác quản lý. Trên thế giới, doanh nghiệp nằm trong vùng xả thải ra sông ngòi buộc phải chấp nhận những điều kiện khắt khe hơn so với những khu vực khác. Còn ở Việt Nam thì sao? Năm 2010, ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai đã nghiên cứu, lập danh mục này áp dụng trên lưu vực sông Đồng Nai để trình Chính phủ phê duyệt. Cụ thể, những loại hình công nghiệp như chế biến tinh bột mì, mủ cao su, sản xuất hóa chất cơ bản (có phát sinh nước thải công nghiệp), nhuộm, thuộc da, xi mạ, chế biến thủy sản… sẽ không được cấp phép hoạt động tại khu vực này. Bộ cũng đang giao tổng cục Môi trường xây dựng trình Chính phủ nghị định quy định về các loại hình sản xuất, kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm cần cấm hoặc hạn chế đầu tư trên địa bàn các lưu vực sông, trước mắt áp dụng đồng bộ trên lưu vực các sông: Cầu, Nhuệ – Đáy và lưu vực hệ thống sông Đồng Nai. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc triển khai nhiệm vụ trên sẽ gặp nhiều khó khăn do vướng các quy định hiện hành của các văn bản luật khác như luật đầu tư, luật doanh nghiệp, các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương trên các lưu vực sông… TP.HCM vừa có kết quả thống kê nguồn thải ra sông Sài Gòn (địa phận TP.HCM), theo ông kết quả này đã đủ chưa? TP.HCM đã rất quan tâm đến công tác điều tra, thống kê nguồn thải ra sông Sài Gòn nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do là một địa phương lớn nhất trong cả nước với hệ thống sông ngòi chằng chịt (tổng chiều dài sông chính tới 400km) và số lượng các nguồn thải cũng rất lớn, thành phố nên tiếp tục đẩy mạnh công tác này trong thời gian tới. Việc điều tra, thu thập số liệu các nguồn ra lưu vực sông Sài Gòn trên địa bàn 17 quận huyện của TP.HCM mới đây, cho thấy: có ba nguồn thải chính ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường nước lưu vực sông Sài Gòn là: công nghiệp, nông nghiệp và nước thải đô thị. Trong đó nước thải đô thị là nguồn ô nhiễm lớn nhất cả về lượng (dân cư: 63%, công nghiệp: 35%, chăn nuôi: 2%) lẫn về chất (lượng hữu cơ cũng như chất rắn lơ lửng trong nước thải sinh hoạt chiếm phần lớn tổng tải lượng ô nhiễm: BOD5: 88%, COD: 85%, SS: 91%). Về nguồn thải công nghiệp theo ngành nghề, có tới 64% cơ sở công nghiệp đã điều tra chưa có hệ thống xử lý nước thải. Về lưu lượng và tải lượng ô nhiễm, dệt nhuộm là ngành đứng đầu, chiếm 37% tổng lưu lượng nước thải và 16% tổng tải lượng hữu cơ thải ra môi trường. Thống kê ô nhiễm theo địa bàn quận huyện, 269 doanh nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 60% tổng số doanh nghiệp đã điều tra. Lưu lượng nước thải phát sinh nhiều từ quận Thủ Đức, Nhà Bè, quận 9 và quận 12. Về tải lượng ô nhiễm, Gò Vấp là địa bàn có tải lượng ô nhiễm thải vào môi trường cao nhất, phát sinh từ các doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất xe ôtô. Riêng phần tải lượng ô nhiễm tại các kênh rạch chính thải vào sông Sài Gòn (địa phận TP.HCM) hiện vẫn chưa được tính toán. (Nguồn: chi cục bảo vệ môi trường, sở Tài nguyên môi trường TP.HCM) Việc điều tra, thu thập số liệu các nguồn ra lưu vực sông Sài Gòn trên địa bàn 17 quận huyện của TP.HCM mới đây, cho thấy: có ba nguồn thải chính ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường nước lưu vực sông Sài Gòn là: công nghiệp, nông nghiệp và nước thải đô thị. Trong đó nước thải đô thị là nguồn ô nhiễm lớn nhất cả về lượng (dân cư: 63%, công nghiệp: 35%, chăn nuôi: 2%) lẫn về chất (lượng hữu cơ cũng như chất rắn lơ lửng trong nước thải sinh hoạt chiếm phần lớn tổng tải lượng ô nhiễm: BOD5: 88%, COD: 85%, SS: 91%). Về nguồn thải công nghiệp theo ngành nghề, có tới 64% cơ sở công nghiệp đã điều tra chưa có hệ thống xử lý nước thải. Về lưu lượng và tải lượng ô nhiễm, dệt nhuộm là ngành đứng đầu, chiếm 37% tổng lưu lượng nước thải và 16% tổng tải lượng hữu cơ thải ra môi trường. Thống kê ô nhiễm theo địa bàn quận huyện, 269 doanh nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 60% tổng số doanh nghiệp đã điều tra. Lưu lượng nước thải phát sinh nhiều từ quận Thủ Đức, Nhà Bè, quận 9 và quận 12. Về tải lượng ô nhiễm, Gò Vấp là địa bàn có tải lượng ô nhiễm thải vào môi trường cao nhất, phát sinh từ các doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất xe ôtô. Riêng phần tải lượng ô nhiễm tại các kênh rạch chính thải vào sông Sài Gòn (địa phận TP.HCM) hiện vẫn chưa được tính toán.

ngày đăng: 20/05/2011 SGTT